Niết bàn là gì? Niết bàn trong Phật Giáo nguyên thủy

Niết bàn là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong Phật giáo, người ta thường tu tâm, đi tìm con đường dẫn đến Niết bàn để đạt cảnh giới Niết bàn. Đức Phật đã nói, Niết bàn là nơi linh hồn được giải phóng khỏi những đau khổ, tham ái, vô minh, thoát khỏi vòng luân hồi của sự sống. Vậy Niết bàn là gì? Có phải là một cảnh giới hiện hữu hay chỉ là trạng thái của tâm?

Niết bàn là gì?

Niết bàn là gì? Niết bàn trong Phật Giáo nguyên thủy-1

Niết bàn là trạng thái giải phóng cuối cùng vòng luân hồi, là sự chấm dứt khổ đau, tham ái và vô minh. Từ “Niết bàn” nếu dịch theo nghĩa đen là “dập tắt”, hiểu theo các mà ngọn lửa bốc ra khi hết nhiên liệu.

Niết bàn nghĩa là không bị ràng buộc, những thứ ràng buộc chúng ta như đam mê, ham muốn, ghen tuông và sự thiếu hiểu biết. Khi những tạp chất này được loại bỏ, con người sẽ sống trong trạng thái tĩnh lặng hoàn toàn, họ không còn cảm thấy hạnh phúc hay buồn bã nữa, không có thêm niềm vui hay thất vọng, không có sự hài lòng hay không hài lòng. Đó là những người đã thoát khỏi vòng luân hồi, tất cả các nghiệp chướng của họ đều được giải quyết.

Có người nói rằng, cõi Niết bàn không phải là một nơi mà là một trạng thái của tâm, đó là trạng thái tinh khiết, giàu lòng từ bi và trí tuệ. Cho dù Niết bàn là cảnh giới tồn tại hay chỉ là trạng thái của tâm thì để có thể đạt được cảnh giới này là điều không hề dễ dàng, không phải ai cũng có thể làm được và phải mất rất nhiều thời gian. Đức Phật đã nói, bất cứ ai cũng có thể đạt được Niết bàn và nếu chúng ta thực hiện một cách chân thành, cẩn thận theo những lời dạy của Phật thì chúng ta có thể đạt được Niết bàn ngay trong đời sống hiện tại.

Về điểm này, Phật giáo Nguyên Thuỷ, Đại Thừa và Kim Cương Thừa đều đồng ý. Những người theo trường phái Phật giáo Đại Thừa đã thề nguyện bằng Bồ Tát, người đã giác ngộ nhưng trì hoãn mục đích đó để có thể ở trong vòng luân hồi giúp đỡ tất cả chúng sinh.

Các đặc tính của Niết bàn

Kinh điển ghi nhận các đặc tính của Niết bàn gồm có:

– Thường, tức không còn bị chi phối bởi các nhân duyên vô thường;

– Lạc, đời sống phúc lạc của dòng tâm thức không còn tham, sân, si;

– Ngã, chân ngã khác với cái ngã phân biệt trong thế giới sinh tử – nhị nguyên;

– Tịnh, sự thanh tịnh tuyệt đối.

Niết bàn còn được gọi là bất sinh (không sinh không diệt), thường trụ (không còn bị chi phối bởi các điều kiện của thế giới sinh tử), và giải thoát (không còn bị ràng buộc trong vòng luân hồi-tái sinh).

Nguồn gốc của Niết bàn

Niết bàn là gì? Niết bàn trong Phật Giáo nguyên thủy-2

Những người phương Tây cho rằng Niết bàn có nghĩa là Thiên đường (Heaven) giống như Thiên Chúa giáo. Thuật ngữ Niết bàn còn có liên quan đến cả Ấn Độ giáo – đây là tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới. Còn trong đạo Hindu và Phật Giáo, từ Niết bàn đề cập đến trạng thái hiện hữu cao hơn, nhưng cả hai tôn giáo đều nhìn nhận trạng thái này rất khác nhau.

Từ Niết bàn chủ yếu gắn liền với Phật giáo, nó bắt đầu như một phong trào trong đạo Hindu, dựa trên triết học và cuộc sống của một người tên Thái Tử Tất Đạt Đa, cuối cùng được tách ra để hình thành con đường riêng của nó.

Tất Đạt Đa (Siddhartha Gautama), người sau này trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (“người thức tỉnh”), được sinh ra trong một gia đình giàu có vào khoảng năm 563 TCN ở Nepal. Theo truyền thuyết Phật giáo, ông có một đời sống tốt đẹp, được nuông chiều trong suốt thời thơ ấu.

Khi còn là một thanh niên, ông đã bắt đầu đặt ra câu hỏi về giá trị thiêng liêng của cuộc sống sang trọng này và quyết định từ bỏ tất cả tài sản và chấp trước tình cảm bao gồm cả vợ và con ông. Ông muốn hiểu bản chất thật sức của cuộc sống và nhìn thấy tất cả những chấp trước của ông là “sự phân tâm”, theo ý nghĩa Hindu.

Ông trở thành một shramana – một nhà khổ hạnh lang thang, vô gia cứ và dành nhiều thời gian để thiền định. Ông muốn tìm kiếm sự giác ngộ bằng cách tách rời khỏi thế giới, vươn tới sự đối nghịch của cuộc sống trước kia. Suốt thời gian ông thiền định và tu khổ hạnh, đã có những lúc ông gần như chết đói. Mặc dù vậy, nhưng ông vẫn chưa đạt được sự giác ngộ. Ông nhận ra, nếu vẫn tiếp tục trên con đường đó thì ông sẽ chết mà không có bất kỳ sự hiểu biết nào cho nên ông đã từ bỏ cuộc sống khổ hạnh và chấp nhận bữa ăn từ một người lạ.

Ông chuyển sang đi trên con đường trung đạo, cuộc sống giữa sang trọng và nghèo khổ, sống giữa thỏa mãn và hành xác. Khi đi trên con đường này, cuối cùng ông cũng được giác ngộ và trở thành Phật. Khi thiền dưới gốc cây bồ đề, ông đã nhìn thấy tất cả những kiếp trước của mình và những kiếp trước của người khác. Cuối cùng ông đã có được một kiến ​​thức hoàn hảo, toàn tri về thế giới này và vượt ra ngoài nó.

Đức Phật đã mô tả Niết bàn như là mục đích cuối cùng, và Ngài đã đạt được trạng thái đó trong suốt thời gian khai sáng của mình. Tại thời điểm này, Ngài đã chọn dạy cho người khác để họ có thể trải nghiệm sự nhận thức này. Khi Ngài qua đời, 45 năm sau, Ngài đã đi qua Niết bàn, nhập vào trạng thái Niết bàn vô điều kiện, hoàn thành Niết bàn.

Ý nghĩa của Niết bàn

Niết bàn là gì? Niết bàn trong Phật Giáo nguyên thủy-3

Theo Phật giáo, từ sự quan sát của tất cả các hiện hữu, chúng ta có thể suy luận về thuyết Niết bàn và sự chấm dứt hoàn toàn của tất cả các hiện tượng đó. Từ quan điểm của hiện tượng, tất cả các hiện tượng đều rất khác nhau, có thể mâu thuẫn lẫn nhau, chúng rất hỗn loạn. Trong thực tế, sự tồn tại của chúng là ảo tưởng và phát sinh từ nhân quả có điều kiện.

Chúng có vẻ như tồn tại trên một mặt, nhưng không tồn tại ở mặt kia. Chúng dường như đoàn kết, nhưng lại rất khác nhau. Có vẻ như chúng tồn tại và chúng vẫn có thể dừng lại! Cuối cùng mọi thứ sẽ trở lại với sự hòa hợp và hoàn thành sự bình tĩnh.

Đây chính là bản chất của mọi sự tồn tại trên vũ trụ này. Niết bàn là nơi nghỉ ngơi cuối cùng cho tất cả mọi người. Nếu chúng ta có thể hiểu được thực tế này và loại bỏ đi những ảo tưởng thì chúng ta có thể tìm thấy trạng thái của sự hòa hợp và hoàn thành sự bình tĩnh.

Tất cả mâu thuẫn, những trở ngại và nhầm lẫn của chúng ta sẽ được chuyển đổi sang sự bình tĩnh. Không có ảo ảnh, sự tĩnh lặng hoàn toàn là kết quả của việc đạt đến Niết Bàn. Đạo Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thành tựu này và khuyến khích chúng ta chiêm ngưỡng trực tiếp và sâu xa về tính chất vô ngã.

>>> Tham khảo: Hỉ, nộ, ái, ố là gì? Làm gì để tu tâm, dưỡng tánh?

Niết bàn là gì? Thực chất, không có bản chất tự nhiên tuyệt đối, cho nên mọi sự vật hiện tượng đều mang tính vô ngã, không có tăng hay giảm, không có thành công hay thất bại nên mọi thứ đều hoàn toàn bình tĩnh. Đó là ý nghĩa mấu chốt của Niết bàn.

Bạn có thể quan tâm:

Lượt xem: 165